Giữ gìn nét đẹp trong đám cưới của dân tộc Tày

23/01/2024 444 0
Đối với dân tộc Tày, chuyện trăm năm của đôi lứa thường được các gia đình chọn để tổ chức trong dịp đầu xuân, đây là một nét đẹp truyền thống trong đời sống của dân tộc Tày.

Đám cưới truyền thống của người Tày được tiến hành qua các nghi thức: lễ dạm hỏi, lễ ăn hỏi, lễ sêu tết, lễ báo ngày cưới, lễ cưới, lễ đón dâu, đưa dâu… thể hiện bản sắc văn hóa của một tộc người. Người Tày gọi lễ cưới là “kin lẩu”, thường được tổ chức trong hai ngày, nhà gái tổ chức hôm trước, nhà trai tổ chức hôm sau. Theo phong tục, mọi chi phí tổ chức đám cưới của nhà gái đều do nhà trai lo về tiền mặt, lợn, gà, gạo, rượu... dùng làm cỗ mời họ hàng, làng xóm. Điều đó có ý nghĩa là nhà trai tỏ lòng biết ơn, mong đền đáp phần nào công lao dưỡng dục của bố mẹ cô gái. Cỗ cưới thường được tổ chức vào buổi chiều (tầm 4 - 5 giờ chiều), thông thường buổi chiều cỗ cưới dành cho người lớn tuổi, bậc cha chú, anh em họ hàng. Đến 7 - 8 giờ tối, gia đình tổ chức ăn uống dành cho nam nữ thanh niên, bạn bè gần xa của cô dâu, chú rể. Ăn uống xong, mọi người vẫn ở lại, người lớn ngồi uống nước, hàn huyên với gia chủ, thanh niên tổ chức trò vui lày cỏ, thua thì uống rượu, nam nữ hát lượn với nhau. Cuộc vui kéo dài thâu đêm đến mờ sáng mới tan.

Đoàn nhà trai đi đón dâu gồm 1 quan lang, 1 pả mẻ, chú rể, 2 phù rể, 1 cô con gái khoảng 15, 16 tuổi, cha chồng và 1 đoàn gánh lễ khoảng từ 8 - 10 người (bao gồm các chàng trai, cô gái còn trẻ chưa lấy vợ, lấy chồng). Lễ vật nhà trai đem sang nhà gái gồm: 100 cái bánh chưng, 400 cái bánh dày nhỏ, 2 cái bánh dày to, 1 con lợn quay, 1 đôi gà, rượu, trầu cau, 1 đôi cá nhỏ, 1 ống tiết, 1 đoạn lòng lợn, 1 túi hạt giống (đỗ, thóc, vừng), một ít đường phên, 1 túi coóc mò khâu bằng vải đỏ, 1 miếng vải đỏ gọi “rằm khấư” báo hiếu công nuôi dưỡng của cha mẹ.

Nghi thức đám cưới dân tộc Tày.                                            Ảnh: Thế Vĩnh

Nghi thức đón dâu trong đám cưới dân tộc Tày. Ảnh: Thế Vĩnh

Đến nhà gái, phút gặp gỡ tiếp đón diễn ra tình cảm, ý nhị. Pả mẻ nhà gái cất lời chào đón đoàn nhà trai, quan lang nhà trai thay mặt đáp lời. Để thử thách tài đối đáp của quan lang nhà trai, pả mẻ nhà gái có thể căng dây, đặt chổi, buộc con mèo trước cửa nhà... Quan lang nhà trai phải dùng những lời thơ đối đáp và đề nghị một cách tế nhị, có lý, có tình để nhà gái mở cửa cho nhà trai vào đón dâu. Đoàn nhà trai vào nhà, nhà gái trân trọng đón lễ. Quan lang, pả mẻ hướng dẫn chú rể dâng lễ lên bàn thờ, cô dâu, chú rể cùng vái lạy tổ tiên. Sau phần nghi lễ chú rể dâng rượu mời ông bà, cha mẹ, anh em họ hàng, mọi người nhận rượu đều có những lời chúc mừng tốt đẹp. Sau đó đoàn nhà trai dự bữa cơm thân mật với nhà gái.

Đám cưới người Tày có rất nhiều món ăn khá đặc biệt, phản ánh đời sống vật chất, tinh thần và tâm linh của cư dân bản địa, đơn cử như: canh củ đao, nộm hoa chuối rừng, canh hoa chuối, măng cuốn, măng nhồi, lợn quay… đủ các món biểu trưng cho âm dương ngũ hành và một phần không thể thiếu trong cỗ cưới của người Tày là rượu. Trong đời sống của người Tày Cao Bằng, rượu là nét văn hóa ẩm thực đặc sắc và gắn bó với cuộc sống của đồng bào từ lâu đời. 

Ông Hoàng Đức Hiền, một người tâm huyết với văn hóa dân gian cho biết: Cưới, hỏi là phong tục truyền thống của dân tộc, là tổng hòa các hình thức văn hóa, văn nghệ dân gian. Trong lễ cưới chứa đựng giá trị về vật chất và tinh thần của mỗi dân tộc, từ những nét văn hóa ẩm thực và các nghi lễ trong đám cưới đến những trang phục truyền thống, các điệu hát quan lang... Hôn nhân của dân tộc Tày không chỉ đơn thuần là việc kết duyên của đôi lứa, mà lớn hơn là truyền thống đạo lý của dân tộc giáo dục cho con người biết được nghĩa vợ chồng trong các mối quan hệ gia đình, dòng tộc, góp phần gắn kết cộng đồng, lưu giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Đặc biệt, trong xu thế phát triển của xã hội hiện nay, những nét văn hóa càng cần được lưu giữ không chỉ để cho hôm nay mà phải để cho các thế hệ mai sau hiểu hơn, tự hào hơn về văn hóa của dân tộc...    

Người con gái Tày đi lấy chồng mang theo nhiều của hồi môn đựng trong chiếc hòm có chân bằng gỗ (rương gỗ). Phần lớn của hồi môn là vải vóc, chăn màn do cô dâu tự dệt và tự may, trang sức bằng bạc, vàng (vòng cổ, hoa tai, vòng tay, xà tích). Ngoài ra, cô dâu biếu bố mẹ chồng, anh em nhà chồng chăn, màn, khăn mặt, giày và một gánh lễ mang theo để dâng lên bàn thờ nhà chồng. Sau khi hoàn tất các thủ tục báo cáo tổ tiên, mời rượu anh em họ hàng, quan lang nhà trai xin phép đón cô dâu về nhà chồng. Lúc này hai tấm vải một màu trắng, một nàu đen sẽ được rải xuống trước bàn thờ ra đến cửa, cô dâu bước trên hai tấm vải đó ra cửa, tuyệt đối không được ngoái đầu nhìn lại. Tới nhà trai, cô dâu, chú rể làm lễ báo cáo trước bàn thờ tổ tiên họ nội. Chú rể và cô dâu chắp tay vái tổ tiên, uống chén rượu thề trăm năm chung thủy... 

Nguồn tin: Báo Cao Bằng điện tử - baocaobang.vn

Những bài viết liên quan

Lịch trình mẫu